ĐNA - Trong xu thế chuyển đổi số mạnh mẽ hiện nay, Bộ Tư lệnh Vùng Cảnh sát biển 2 xác định chuyển đổi số không chỉ là ứng dụng công nghệ mà còn là đổi mới toàn diện về tư duy, phương thức quản lý, điều hành và thực hiện nhiệm vụ. Đây là giải pháp quan trọng nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác, năng lực thực thi pháp luật trên biển, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong thời đại số.

Hội nghị thực hiện Bình dân học vụ số trực tuyến của Bộ Tư lệnh Vùng

Chuyển đổi số và tầm quan trọng của chuyển đổi số
Quan niệm về chuyển đổi số.
Chuyển đổi số (Digital Transformation) là quá trình ứng dụng công nghệ số nhằm đổi mới toàn diện phương thức quản lý, điều hành, tổ chức hoạt động và thực hiện nhiệm vụ của một cơ quan, tổ chức. Quá trình này dựa trên việc khai thác các công nghệ hiện đại như điện toán đám mây, dữ liệu lớn (Big Data), Internet vạn vật (IoT), trí tuệ nhân tạo (AI), công nghệ chuỗi khối (Blockchain) và tự động hóa, qua đó nâng cao hiệu quả hoạt động, chất lượng công việc và khả năng thích ứng trước những yêu cầu mới.

Bản chất của chuyển đổi số không đơn thuần là số hóa tài liệu hay đưa phần mềm, ứng dụng công nghệ vào hoạt động thực tiễn, mà quan trọng hơn là sự thay đổi căn bản về tư duy, phương thức quản lý, mô hình tổ chức và quy trình thực hiện nhiệm vụ. Trong đó, dữ liệu được xác định là nguồn tài nguyên quan trọng, đóng vai trò nền tảng cho việc phân tích, dự báo, hỗ trợ ra quyết định và nâng cao hiệu quả quản lý, điều hành. Thông qua chuyển đổi số, các cơ quan, tổ chức từng bước khắc phục những hạn chế của phương thức quản lý truyền thống, hướng tới xây dựng môi trường làm việc hiện đại, khoa học, linh hoạt, minh bạch và hiệu quả.

Về cơ bản, chuyển đổi số được triển khai trên ba phương diện chủ yếu:
Một là, chuyển đổi số trong hoạt động quản lý, điều hành và xử lý công việc. Đây là quá trình ứng dụng công nghệ số để hiện đại hóa, chuẩn hóa và tự động hóa các quy trình hoạt động, nhằm rút ngắn thời gian xử lý công việc, hạn chế sai sót, tiết kiệm nguồn lực và nâng cao năng suất, chất lượng thực hiện nhiệm vụ. Những hình thức phổ biến gồm: số hóa hồ sơ, tài liệu; ứng dụng phần mềm quản lý, điều hành; sử dụng chữ ký số, văn bản điện tử; tổ chức hội nghị, họp trực tuyến; xây dựng cơ sở dữ liệu và tự động hóa các quy trình nghiệp vụ. Qua đó, góp phần nâng cao tính chính xác, đồng bộ và kịp thời trong quản lý, điều hành, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho việc trao đổi, chia sẻ và khai thác thông tin.

Hai là, chuyển đổi số trong đổi mới mô hình tổ chức và phương thức thực hiện nhiệm vụ. Trên cơ sở ứng dụng công nghệ số, các cơ quan, tổ chức từng bước đổi mới phương thức hoạt động, nâng cao khả năng phối hợp, kết nối và chia sẻ dữ liệu giữa các bộ phận, đơn vị. Chuyển đổi số không chỉ cải tiến những quy trình hiện có mà còn tạo điều kiện hình thành các mô hình hoạt động, phương thức cung cấp dịch vụ và giải pháp thực hiện nhiệm vụ mới. Tiêu biểu như phát triển dịch vụ trực tuyến, thanh toán điện tử, thương mại điện tử, các nền tảng dùng chung và hệ thống kết nối, chia sẻ dữ liệu. Đối với các cơ quan nhà nước và đơn vị lực lượng vũ trang, phương diện này còn thể hiện ở việc đổi mới phương thức chỉ huy, quản lý, điều hành, phối hợp và tổ chức thực hiện nhiệm vụ trên nền tảng công nghệ số, phù hợp với chức năng, nhiệm vụ và yêu cầu bảo đảm an toàn, bảo mật thông tin.

Ba là, chuyển đổi số hướng tới nâng cao chất lượng phục vụ và trải nghiệm của người sử dụng.Chuyển đổi số lấy nhu cầu và sự thuận tiện của người sử dụng làm một trong những mục tiêu quan trọng, thông qua việc xây dựng các nền tảng, ứng dụng và dịch vụ số dễ tiếp cận, nhanh chóng, minh bạch và hiệu quả. Các hình thức như cổng dịch vụ công trực tuyến, ứng dụng di động, hệ thống tra cứu thông tin và công cụ hỗ trợ bằng trí tuệ nhân tạo (AI) góp phần đơn giản hóa thủ tục, rút ngắn thời gian tiếp cận thông tin, nâng cao chất lượng tương tác giữa cơ quan, tổ chức với người dân và các đối tượng phục vụ. Đồng thời, việc khai thác dữ liệu còn tạo điều kiện đáp ứng tốt hơn nhu cầu của từng nhóm người sử dụng, góp phần nâng cao chất lượng phục vụ và hiệu quả hoạt động của tổ chức.

Như vậy, chuyển đổi số là quá trình đổi mới toàn diện, có sự gắn kết chặt chẽ giữa công nghệ, con người, dữ liệu và phương thức tổ chức thực hiện nhiệm vụ. Trong đó, công nghệ là công cụ, dữ liệu là nền tảng, con người giữ vai trò quyết định, còn đổi mới tư duy và phương thức hoạt động là yếu tố cốt lõi. Nhận thức đúng bản chất và các phương diện của chuyển đổi số là cơ sở quan trọng để mỗi cơ quan, đơn vị xác định mục tiêu, lựa chọn giải pháp và tổ chức triển khai phù hợp với đặc điểm, yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.

Tầm quan trọng của chuyển đổi số. Chuyển đổi số có vai trò quan trọng trong đổi mới phương thức quản lý, nâng cao hiệu quả hoạt động của các cơ quan, tổ chức, đồng thời tạo động lực thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội. Tầm quan trọng của chuyển đổi số được thể hiện trên một số phương diện chủ yếu sau:

Thứ nhất, nâng cao hiệu quả hoạt động, tiết kiệm thời gian và nguồn lực. Thông qua ứng dụng công nghệ số, các cơ quan, tổ chức từng bước đơn giản hóa thủ tục, chuẩn hóa quy trình, tự động hóa các khâu xử lý công việc, qua đó rút ngắn thời gian thực hiện nhiệm vụ, giảm chi phí quản lý, lưu trữ và vận hành. Việc sử dụng các phần mềm quản lý, hệ thống điều hành điện tử và nền tảng số còn góp phần hạn chế sai sót, nâng cao năng suất lao động, chất lượng công việc và hiệu quả sử dụng nguồn lực. Đặc biệt, đối với các cơ quan, đơn vị có yêu cầu cao về tính kịp thời, chính xác và thống nhất trong chỉ đạo, điều hành, chuyển đổi số tạo điều kiện nâng cao khả năng phối hợp, xử lý công việc và tổ chức thực hiện nhiệm vụ.

Thứ hai, tăng cường tính công khai, minh bạch và nâng cao chất lượng phục vụ. Việc số hóa dữ liệu, chuẩn hóa quy trình và ứng dụng các hệ thống quản lý tập trung giúp thông tin được cập nhật, lưu trữ, tra cứu và kiểm soát thuận lợi hơn. Qua đó, nâng cao khả năng theo dõi, giám sát, xác định trách nhiệm trong quá trình giải quyết công việc, góp phần hạn chế sai sót, tiêu cực và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý. Đối với các cơ quan nhà nước, chuyển đổi số còn tạo điều kiện để người dân, tổ chức tiếp cận thông tin và dịch vụ công nhanh chóng, thuận tiện, góp phần nâng cao chất lượng phục vụ và củng cố niềm tin của nhân dân.

Thứ ba, phát huy giá trị của dữ liệu trong quản lý, điều hành và ra quyết định. Trong thời đại số, dữ liệu trở thành nguồn tài nguyên quan trọng, có giá trị đối với hoạt động của mỗi cơ quan, tổ chức. Việc xây dựng, kết nối, chia sẻ và khai thác hiệu quả các cơ sở dữ liệu giúp nâng cao chất lượng tổng hợp, phân tích thông tin, nhận diện xu hướng, dự báo tình hình và hỗ trợ ra quyết định. Trên cơ sở đó, các cơ quan, tổ chức có thể chủ động xây dựng kế hoạch, phân bổ nguồn lực và lựa chọn phương án xử lý phù hợp với yêu cầu thực tiễn. Đối với lực lượng vũ trang, việc khai thác dữ liệu chính xác, kịp thời, đồng bộ, gắn với yêu cầu bảo đảm an toàn, bảo mật thông tin có ý nghĩa quan trọng trong nâng cao chất lượng tham mưu, chỉ huy, quản lý và tổ chức thực hiện nhiệm vụ.

Thứ tư, tạo động lực thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội và hiện đại hóa nền quản trị quốc gia. Chuyển đổi số góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế số, đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất lao động, tạo ra các ngành nghề, phương thức sản xuất, kinh doanh và dịch vụ mới. Đồng thời, việc ứng dụng công nghệ số trong các lĩnh vực của đời sống xã hội tạo điều kiện nâng cao chất lượng dịch vụ, cải thiện đời sống nhân dân và mở rộng khả năng tiếp cận tri thức, thông tin. Trong hoạt động quản lý nhà nước, chuyển đổi số là nền tảng quan trọng để đổi mới phương thức quản trị, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy, hướng tới xây dựng Chính phủ số, kinh tế số và xã hội số.

Như vậy, chuyển đổi số không chỉ mang lại lợi ích về công nghệ, kinh tế và quản lý mà còn tạo ra những thay đổi căn bản trong tư duy, phương thức tổ chức và thực hiện nhiệm vụ. Đối với lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam nói chung, Bộ Tư lệnh Vùng Cảnh sát biển 2 nói riêng, chuyển đổi số có ý nghĩa thiết thực trong nâng cao chất lượng công tác tham mưu, chỉ huy, điều hành, quản lý lực lượng, bảo đảm hậu cần, kỹ thuật và thực thi pháp luật trên biển, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.

Ứng dụng chuyển đổi số trong thực hiện nhiệm vụ trên biển

Thực trạng chuyển đổi số ở Bộ Tư lệnh Vùng Cảnh sát biển 2
Đối với đơn vị thực hiện nhiệm vụ quản lý, bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia và thực thi pháp luật trên biển, việc tiếp nhận, xử lý, trao đổi thông tin kịp thời, chính xác, thống nhất có ý nghĩa quan trọng trong công tác tham mưu, chỉ huy, điều hành, tổ chức lực lượng và bảo đảm hậu cần, kỹ thuật. Trong bối cảnh yêu cầu nhiệm vụ ngày càng cao, chuyển đổi số trở thành một trong những giải pháp quan trọng nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của Bộ Tư lệnh Vùng Cảnh sát biển 2.

Nhận thức rõ vị trí, vai trò và tầm quan trọng của chuyển đổi số, thời gian qua, quán triệt và triển khai thực hiện các chủ trương, kế hoạch của cấp trên, Đảng ủy, Bộ Tư lệnh Vùng Cảnh sát biển 2 đã quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo triển khai các nhiệm vụ, giải pháp chuyển đổi số phù hợp với đặc điểm tổ chức, chức năng và yêu cầu nhiệm vụ của đơn vị. Trong đó, chú trọng gắn chuyển đổi số với cải cách hành chính, đổi mới phương pháp, tác phong công tác, nâng cao chất lượng quản lý, chỉ huy, điều hành và xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện “mẫu mực, tiêu biểu”.

Quá trình triển khai chuyển đổi số được Bộ Tư lệnh Vùng xác định không chỉ là nhiệm vụ ứng dụng công nghệ mà còn là yêu cầu đổi mới tư duy, nhận thức và phương thức thực hiện nhiệm vụ của cán bộ, chiến sĩ. Trên cơ sở đó, đơn vị từng bước đưa chuyển đổi số vào các mặt công tác, hướng tới nâng cao hiệu quả hoạt động, đáp ứng yêu cầu xây dựng lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam trong tình hình mới. Kết quả triển khai được thể hiện trên một số nội dung chủ yếu sau:

Kết quả triển khai chuyển đổi số tại Bộ Tư lệnh Vùng Cảnh sát biển 2
Thứ nhất, đẩy mạnh chuyển đổi số trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý và điều hành.
Năm 2026, Bộ Tư lệnh Vùng Cảnh sát biển 2 tích cực triển khai các kế hoạch, đề án về chuyển đổi số, Phong trào “Bình dân học vụ số” và các chỉ thị, kế hoạch của cấp trên về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Quá trình triển khai được gắn với yêu cầu đổi mới phương pháp công tác, nâng cao hiệu quả quản lý, điều hành và xây dựng đội ngũ cán bộ, chiến sĩ có khả năng thích ứng với môi trường số.

Trong công tác đảng, công tác chính trị, Đảng ủy Bộ Tư lệnh Vùng đã thực hiện số hóa 100% dữ liệu cán bộ, đảng viên; triển khai sử dụng chữ ký số đạt 100% trong hệ thống điều hành. Đến nay, 100% chính trị viên, cán bộ chính trị thành thạo việc cài đặt phần mềm QiMe phục vụ trao đổi thông tin. Những kết quả này góp phần từng bước đổi mới phương thức xử lý công việc, nâng cao tính kịp thời, chính xác trong quản lý và điều hành hoạt động của đơn vị.

Thứ hai, phát huy sáng kiến, ứng dụng công nghệ số trong các mặt công tác. Cùng với việc triển khai các hệ thống, phần mềm dùng chung, các cơ quan, đơn vị thuộc Bộ Tư lệnh Vùng đã chủ động nghiên cứu, xây dựng và ứng dụng nhiều giải pháp số phù hợp với yêu cầu thực tiễn. Phòng Chính trị thiết kế mã QR phục vụ giáo dục truyền thống Bộ Tư lệnh Vùng, đồng thời triển khai thiết kế mã QR phục vụ công tác quản lý tư tưởng quân nhân. Chi đội Kiểm ngư 3 xây dựng và đưa vào sử dụng phần mềm “Kiểm tra nhận thức chính trị cho các đối tượng”; Hải đoàn 21 ứng dụng phần mềm “Sổ tay cán bộ số”; Hải đội 202 xây dựng phần mềm “Quản lý đoàn viên”.

Bên cạnh đó, chuyển đổi số được triển khai trong các lĩnh vực chuyên môn thông qua khai thác, sử dụng các phần mềm quản lý cán bộ, tổ chức, nghiệp vụ pháp luật, quân lực và hệ sinh thái số ngành hậu cần – kỹ thuật. Việc ứng dụng các phần mềm chuyên ngành góp phần giảm thao tác thủ công, hỗ trợ cập nhật, đối chiếu, tổng hợp và khai thác dữ liệu, qua đó nâng cao chất lượng tham mưu, quản lý và tổ chức thực hiện nhiệm vụ.

Thứ ba, chú trọng phát triển hạ tầng số, bảo đảm an toàn thông tin và phục vụ nhiệm vụ trên biển. Xuất phát từ đặc thù hoạt động của lực lượng Cảnh sát biển, Bộ Tư lệnh Vùng chú trọng duy trì hoạt động ổn định của hệ thống mạng truyền số liệu quân sự đến các đầu mối đơn vị, gắn với yêu cầu bảo đảm an toàn thông tin, an ninh mạng. Trên cơ sở đó, Bộ Tư lệnh Vùng triển khai xây dựng, hiện đại hóa hệ thống “Chỉ huy – Kiểm soát trên biển liên kết, tích hợp trung tâm dữ liệu và nền tảng số Cảnh sát biển Việt Nam”; đồng thời triển khai “Hệ thống giám sát an toàn thông tin của Bộ Quốc phòng giai đoạn 2”.

Việc triển khai các hệ thống trên hướng tới nâng cao khả năng kết nối, trao đổi, tổng hợp và khai thác thông tin, phục vụ công tác tham mưu, chỉ huy, điều hành và tổ chức thực hiện nhiệm vụ trên biển. Đồng thời, tăng cường khả năng giám sát, bảo vệ các hệ thống thông tin, đáp ứng yêu cầu bảo đảm an toàn, bảo mật trong quá trình ứng dụng công nghệ số vào hoạt động của đơn vị.

Thứ tư, nâng cao nhận thức, kỹ năng số cho cán bộ, chiến sĩ. Xác định con người là yếu tố quyết định hiệu quả chuyển đổi số, Bộ Tư lệnh Vùng quan tâm triển khai Phong trào “Bình dân học vụ số”, gắn việc nâng cao nhận thức với bồi dưỡng kỹ năng ứng dụng công nghệ trong thực hiện nhiệm vụ. Toàn Bộ Tư lệnh Vùng đã thành lập 74 tổ kỹ năng số, tạo điều kiện thúc đẩy việc tiếp cận, khai thác và sử dụng các nền tảng, ứng dụng số trong các cơ quan, đơn vị.

Thông qua quá trình triển khai, chuyển đổi số từng bước được gắn với hoạt động thường xuyên của cán bộ, chiến sĩ, góp phần nâng cao nhận thức về vai trò của công nghệ, hình thành phương pháp làm việc khoa học và thúc đẩy đổi mới tư duy trong thực hiện nhiệm vụ.

Bên cạnh những kết quả đạt được, quá trình chuyển đổi số tại Bộ Tư lệnh Vùng Cảnh sát biển 2 vẫn còn một số khó khăn, hạn chế cần tập trung khắc phục.

Trước hết, nhận thức và kỹ năng số của một bộ phận quân nhân chưa theo kịp yêu cầu chuyển đổi số. Một số cán bộ, chiến sĩ còn quen với phương pháp làm việc truyền thống, chưa chủ động tiếp cận, khai thác các nền tảng công nghệ mới; việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) vào công tác và đời sống còn hạn chế. Tâm lý ngại thay đổi, thiếu chủ động trong đổi mới phương pháp làm việc phần nào ảnh hưởng đến tiến độ và hiệu quả triển khai chuyển đổi số tại đơn vị.

Cùng với đó, nguồn nhân lực có kiến thức chuyên sâu về công nghệ thông tin, đủ khả năng quản lý, khai thác và vận hành các hệ thống, thiết bị số còn hạn chế, nhất là tại các đơn vị cơ sở. Đây là khó khăn trong quá trình tiếp nhận, ứng dụng công nghệ mới cũng như duy trì, phát huy hiệu quả các giải pháp số đã được triển khai.

Về hạ tầng và dữ liệu, hệ thống công nghệ thông tin ở một số đơn vị chưa đồng bộ; dữ liệu còn phân tán, khả năng kết nối, liên thông và chia sẻ thông tin giữa các hệ thống còn hạn chế. Điều kiện đường truyền và khả năng khai thác dữ liệu dùng chung chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu, ảnh hưởng đến hiệu quả tổng hợp, xử lý thông tin và ứng dụng công nghệ trong quản lý, điều hành.

Đặc biệt, nguy cơ mất an toàn thông tin, an ninh mạng ngày càng gia tăng, đặt ra yêu cầu cao hơn đối với công tác quản lý, bảo vệ dữ liệu và vận hành các hệ thống thông tin. Trong điều kiện đặc thù của đơn vị lực lượng vũ trang, việc mở rộng ứng dụng công nghệ số phải gắn chặt với bảo đảm bí mật quân sự, an toàn hệ thống và an ninh thông tin trong mọi hoạt động.

Những khó khăn, hạn chế trên cho thấy chuyển đổi số tại Bộ Tư lệnh Vùng Cảnh sát biển 2 không chỉ đặt ra yêu cầu về đầu tư hạ tầng, trang bị công nghệ mà còn đòi hỏi sự đổi mới đồng bộ về nhận thức, nguồn nhân lực, phương thức quản lý và tổ chức thực hiện. Đây là những vấn đề cần được tập trung giải quyết nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả chuyển đổi số, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của đơn vị trong tình hình mới.

Để tiếp tục phát huy những kết quả đạt được, khắc phục khó khăn, hạn chế và nâng cao hiệu quả chuyển đổi số, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới, Bộ Tư lệnh Vùng Cảnh sát biển 2 cần tập trung thực hiện đồng bộ một số giải pháp chủ yếu sau:

Một là, tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo, nâng cao nhận thức và hoàn thiện cơ chế, quy định về chuyển đổi số. Cấp ủy, chỉ huy các cấp, trước hết là cán bộ chủ trì, người đứng đầu cơ quan, đơn vị cần nhận thức đầy đủ vị trí, vai trò của chuyển đổi số, xác định đây là nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên, gắn trực tiếp với nâng cao chất lượng, hiệu quả thực hiện nhiệm vụ. Người đứng đầu phải phát huy vai trò tiên phong, trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện và chịu trách nhiệm về kết quả chuyển đổi số trong phạm vi quản lý; đồng thời tạo sự chuyển biến thống nhất từ nhận thức đến hành động trong toàn đơn vị.

Tiếp tục rà soát, bổ sung, hoàn thiện các quy chế, quy định và quy trình nội bộ về chuyển đổi số, cải cách hành chính, quản lý, khai thác và sử dụng dữ liệu, bảo đảm phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, điều kiện thực tiễn của Bộ Tư lệnh Vùng. Chú trọng cụ thể hóa các chủ trương, kế hoạch của cấp trên thành mục tiêu, nhiệm vụ và lộ trình thực hiện phù hợp với từng cơ quan, đơn vị; xác định rõ trách nhiệm, tiến độ và kết quả cần đạt được.

Đồng thời, đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến kiến thức về chuyển đổi số bằng các hình thức linh hoạt, kết hợp phương pháp truyền thống với ứng dụng công nghệ số. Tổ chức quán triệt sâu rộng các nghị quyết, chỉ thị, kế hoạch của cấp trên, trong đó có Đề án chuyển đổi số trong Bộ Quốc phòng giai đoạn 2026–2030, thông qua học tập trực tuyến, thi tìm hiểu trên nền tảng số và sinh hoạt chính trị. Qua đó, nâng cao nhận thức, trách nhiệm, khơi dậy tinh thần chủ động, sáng tạo của cán bộ, chiến sĩ trong thực hiện chuyển đổi số.

Hai là, chú trọng đào tạo, bồi dưỡng, phát triển nguồn nhân lực và nâng cao năng lực thực hành kỹ năng số. Xác định phát triển nguồn nhân lực là yếu tố then chốt, Bộ Tư lệnh Vùng cần xây dựng đội ngũ cán bộ nòng cốt có kiến thức, kỹ năng và khả năng hướng dẫn ứng dụng công nghệ số tại các cơ quan, đơn vị. Thông qua việc lựa chọn, cử cán bộ tham gia các lớp đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn chuyên sâu về chuyển đổi số, từng bước hình thành đội ngũ hướng dẫn viên có khả năng khai thác, vận hành, ứng dụng công nghệ và hỗ trợ giải quyết những khó khăn phát sinh trong thực tiễn.

Phát huy vai trò của 74 tổ kỹ năng số đã được thành lập, tổ chức bồi dưỡng thường xuyên, có trọng tâm, trọng điểm, phù hợp với từng nhóm đối tượng và đặc thù nhiệm vụ. Nội dung bồi dưỡng cần chuyển từ trang bị kiến thức lý thuyết sang rèn luyện kỹ năng thực hành, lấy khả năng ứng dụng công nghệ trong giải quyết công việc làm thước đo đánh giá kết quả.

Trước hết, chú trọng hình thành tư duy số cho cán bộ, chiến sĩ, trong đó nhấn mạnh khả năng tiếp cận vấn đề theo hướng khoa học, tư duy logic, phân tích và khai thác dữ liệu phục vụ thực hiện nhiệm vụ. Trên cơ sở đó, từng bước trang bị kiến thức cơ bản về công nghệ số, kỹ năng sử dụng các phần mềm, nền tảng dùng chung, công cụ hỗ trợ công việc và ứng dụng trí tuệ nhân tạo phù hợp với yêu cầu bảo mật. Đặc biệt, tăng cường bồi dưỡng kỹ năng bảo đảm an toàn thông tin, nhận diện nguy cơ mất an ninh mạng, bảo vệ dữ liệu và bí mật quân sự trong môi trường số.

Ba là, từng bước hoàn thiện hạ tầng số, phát triển các nền tảng dùng chung gắn với bảo đảm an toàn thông tin, an ninh mạng. Phát triển hạ tầng số đồng bộ, hiện đại là điều kiện quan trọng để nâng cao hiệu quả chuyển đổi số, đáp ứng yêu cầu xây dựng đơn vị số. Trên cơ sở điều kiện thực tiễn và định hướng của cấp trên, Bộ Tư lệnh Vùng cần ưu tiên đầu tư, nâng cấp hệ thống công nghệ thông tin, hạ tầng mạng và đường truyền dữ liệu, bảo đảm khả năng kết nối, liên thông giữa các cơ quan, đơn vị và với các hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu dùng chung của Cảnh sát biển Việt Nam, Bộ Quốc phòng theo quy định.

Từng bước phát triển, khai thác hiệu quả các nền tảng số dùng chung, nghiên cứu ứng dụng công nghệ điện toán đám mây và các giải pháp lưu trữ, chia sẻ dữ liệu phù hợp với đặc thù hoạt động quân sự. Chú trọng khả năng kết nối, trao đổi thông tin giữa sở chỉ huy với các đơn vị trực thuộc, nhất là các lực lượng thực hiện nhiệm vụ trên biển, góp phần nâng cao tính kịp thời, thống nhất trong chỉ huy, điều hành và phối hợp thực hiện nhiệm vụ.

Quá trình phát triển hạ tầng số phải gắn chặt với yêu cầu bảo đảm an toàn thông tin, an ninh mạng và bảo vệ bí mật quân sự. Tăng cường triển khai các giải pháp bảo mật, kiểm soát truy cập, phân quyền khai thác dữ liệu; nâng cao năng lực giám sát, phát hiện, cảnh báo và xử lý sự cố an ninh mạng. Đồng thời, thường xuyên kiểm tra, đánh giá mức độ an toàn của các hệ thống thông tin, chủ động phòng ngừa nguy cơ lộ, lọt dữ liệu, bảo đảm các hoạt động chuyển đổi số được triển khai an toàn, hiệu quả, đúng quy định.

Bốn là, đẩy mạnh xây dựng, chuẩn hóa và khai thác dữ liệu số phục vụ quản lý, chỉ huy, điều hành và thực hiện nhiệm vụ. Tập trung xây dựng, chuẩn hóa và từng bước hoàn thiện hệ thống dữ liệu số của Bộ Tư lệnh Vùng theo hướng thống nhất, đồng bộ, có khả năng kết nối, chia sẻ và khai thác hiệu quả. Trên cơ sở các hệ thống thông tin hiện có, tiến hành rà soát, phân loại, số hóa và cập nhật dữ liệu trong từng lĩnh vực công tác; khắc phục tình trạng dữ liệu phân tán, thiếu đồng bộ, hạn chế khả năng kết nối và khai thác thông tin giữa các cơ quan, đơn vị.

Nghiên cứu xây dựng kho dữ liệu tập trung của Bộ Tư lệnh Vùng phù hợp với kiến trúc, tiêu chuẩn kỹ thuật và quy định quản lý dữ liệu của cấp trên. Trong đó, chú trọng chất lượng, tính chính xác, đầy đủ, kịp thời của dữ liệu; xác định rõ trách nhiệm quản lý, cập nhật, khai thác và sử dụng, bảo đảm dữ liệu được quản lý thống nhất, an toàn và phục vụ đúng mục đích.

Trên nền tảng dữ liệu số, từng bước đổi mới phương thức quản lý, điều hành theo hướng khoa học, hiện đại, tăng cường ứng dụng công nghệ trong tổng hợp, phân tích, đánh giá và dự báo tình hình. Đặc biệt, chú trọng khai thác dữ liệu phục vụ công tác tham mưu, chỉ huy, huấn luyện, quản lý lực lượng, bảo đảm hậu cần, kỹ thuật và thực hiện nhiệm vụ trên biển. Qua đó, nâng cao chất lượng thông tin phục vụ chỉ huy các cấp, hỗ trợ lựa chọn phương án xử lý tình huống kịp thời, chính xác, phù hợp với yêu cầu thực tiễn.

Việc xây dựng và khai thác dữ liệu số cần gắn với đổi mới quy trình công tác, nâng cao năng lực sử dụng dữ liệu của cán bộ, chiến sĩ, từng bước chuyển từ phương thức quản lý chủ yếu dựa trên hồ sơ, báo cáo thủ công sang quản lý, điều hành dựa trên dữ liệu số, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả thực hiện nhiệm vụ của Bộ Tư lệnh Vùng.

Tóm lại, chuyển đổi số là yêu cầu khách quan, đồng thời là giải pháp quan trọng nhằm nâng cao chất lượng quản lý, chỉ huy, điều hành và năng lực thực hiện nhiệm vụ của Bộ Tư lệnh Vùng Cảnh sát biển 2. Việc triển khai đồng bộ các giải pháp về lãnh đạo, chỉ đạo, phát triển nguồn nhân lực, hoàn thiện hạ tầng và khai thác dữ liệu số sẽ tạo nền tảng thúc đẩy chuyển đổi số đi vào chiều sâu, thực chất, hiệu quả, góp phần xây dựng Bộ Tư lệnh Vùng vững mạnh toàn diện “mẫu mực, tiêu biểu”, đáp ứng yêu cầu quản lý, bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia và thực thi pháp luật trên biển trong tình hình mới.

Hướng dấn khai thác phần mềm số hóa tại Bộ Tư lệnh Vùng

Giải pháp thúc đẩy chuyển đổi số hiệu quả ở Bộ Tư lệnh Vùng Cảnh sát biển 2
Để tiếp tục phát huy những kết quả đạt được, khắc phục khó khăn, hạn chế và nâng cao hiệu quả chuyển đổi số, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới, Bộ Tư lệnh Vùng Cảnh sát biển 2 cần tập trung thực hiện đồng bộ một số giải pháp chủ yếu sau:

Một là, tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo, nâng cao nhận thức và hoàn thiện cơ chế, quy định về chuyển đổi số. Cấp ủy, chỉ huy các cấp, trước hết là cán bộ chủ trì, người đứng đầu cơ quan, đơn vị cần nhận thức đầy đủ vị trí, vai trò của chuyển đổi số, xác định đây là nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên, gắn trực tiếp với nâng cao chất lượng, hiệu quả thực hiện nhiệm vụ. Người đứng đầu phải phát huy vai trò tiên phong, trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện và chịu trách nhiệm về kết quả chuyển đổi số trong phạm vi quản lý; đồng thời tạo sự chuyển biến thống nhất từ nhận thức đến hành động trong toàn đơn vị.

Tiếp tục rà soát, bổ sung, hoàn thiện các quy chế, quy định và quy trình nội bộ về chuyển đổi số, cải cách hành chính, quản lý, khai thác và sử dụng dữ liệu, bảo đảm phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, điều kiện thực tiễn của Bộ Tư lệnh Vùng. Chú trọng cụ thể hóa các chủ trương, kế hoạch của cấp trên thành mục tiêu, nhiệm vụ và lộ trình thực hiện phù hợp với từng cơ quan, đơn vị; xác định rõ trách nhiệm, tiến độ và kết quả cần đạt được.

Đồng thời, đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến kiến thức về chuyển đổi số bằng các hình thức linh hoạt, kết hợp phương pháp truyền thống với ứng dụng công nghệ số. Tổ chức quán triệt sâu rộng các nghị quyết, chỉ thị, kế hoạch của cấp trên, trong đó có Đề án chuyển đổi số trong Bộ Quốc phòng giai đoạn 2026–2030, thông qua học tập trực tuyến, thi tìm hiểu trên nền tảng số và sinh hoạt chính trị. Qua đó, nâng cao nhận thức, trách nhiệm, khơi dậy tinh thần chủ động, sáng tạo của cán bộ, chiến sĩ trong thực hiện chuyển đổi số.

Hai là, chú trọng đào tạo, bồi dưỡng, phát triển nguồn nhân lực và nâng cao năng lực thực hành kỹ năng số.
Xác định phát triển nguồn nhân lực là yếu tố then chốt, Bộ Tư lệnh Vùng cần xây dựng đội ngũ cán bộ nòng cốt có kiến thức, kỹ năng và khả năng hướng dẫn ứng dụng công nghệ số tại các cơ quan, đơn vị. Thông qua việc lựa chọn, cử cán bộ tham gia các lớp đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn chuyên sâu về chuyển đổi số, từng bước hình thành đội ngũ hướng dẫn viên có khả năng khai thác, vận hành, ứng dụng công nghệ và hỗ trợ giải quyết những khó khăn phát sinh trong thực tiễn.

Phát huy vai trò của 74 tổ kỹ năng số đã được thành lập, tổ chức bồi dưỡng thường xuyên, có trọng tâm, trọng điểm, phù hợp với từng nhóm đối tượng và đặc thù nhiệm vụ. Nội dung bồi dưỡng cần chuyển từ trang bị kiến thức lý thuyết sang rèn luyện kỹ năng thực hành, lấy khả năng ứng dụng công nghệ trong giải quyết công việc làm thước đo đánh giá kết quả.

Trước hết, chú trọng hình thành tư duy số cho cán bộ, chiến sĩ, trong đó nhấn mạnh khả năng tiếp cận vấn đề theo hướng khoa học, tư duy logic, phân tích và khai thác dữ liệu phục vụ thực hiện nhiệm vụ. Trên cơ sở đó, từng bước trang bị kiến thức cơ bản về công nghệ số, kỹ năng sử dụng các phần mềm, nền tảng dùng chung, công cụ hỗ trợ công việc và ứng dụng trí tuệ nhân tạo phù hợp với yêu cầu bảo mật. Đặc biệt, tăng cường bồi dưỡng kỹ năng bảo đảm an toàn thông tin, nhận diện nguy cơ mất an ninh mạng, bảo vệ dữ liệu và bí mật quân sự trong môi trường số.

Ba là, từng bước hoàn thiện hạ tầng số, phát triển các nền tảng dùng chung gắn với bảo đảm an toàn thông tin, an ninh mạng. Phát triển hạ tầng số đồng bộ, hiện đại là điều kiện quan trọng để nâng cao hiệu quả chuyển đổi số, đáp ứng yêu cầu xây dựng đơn vị số. Trên cơ sở điều kiện thực tiễn và định hướng của cấp trên, Bộ Tư lệnh Vùng cần ưu tiên đầu tư, nâng cấp hệ thống công nghệ thông tin, hạ tầng mạng và đường truyền dữ liệu, bảo đảm khả năng kết nối, liên thông giữa các cơ quan, đơn vị và với các hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu dùng chung của Cảnh sát biển Việt Nam, Bộ Quốc phòng theo quy định.

Từng bước phát triển, khai thác hiệu quả các nền tảng số dùng chung, nghiên cứu ứng dụng công nghệ điện toán đám mây và các giải pháp lưu trữ, chia sẻ dữ liệu phù hợp với đặc thù hoạt động quân sự. Chú trọng khả năng kết nối, trao đổi thông tin giữa sở chỉ huy với các đơn vị trực thuộc, nhất là các lực lượng thực hiện nhiệm vụ trên biển, góp phần nâng cao tính kịp thời, thống nhất trong chỉ huy, điều hành và phối hợp thực hiện nhiệm vụ.

Quá trình phát triển hạ tầng số phải gắn chặt với yêu cầu bảo đảm an toàn thông tin, an ninh mạng và bảo vệ bí mật quân sự. Tăng cường triển khai các giải pháp bảo mật, kiểm soát truy cập, phân quyền khai thác dữ liệu; nâng cao năng lực giám sát, phát hiện, cảnh báo và xử lý sự cố an ninh mạng. Đồng thời, thường xuyên kiểm tra, đánh giá mức độ an toàn của các hệ thống thông tin, chủ động phòng ngừa nguy cơ lộ, lọt dữ liệu, bảo đảm các hoạt động chuyển đổi số được triển khai an toàn, hiệu quả, đúng quy định.

Bốn là, đẩy mạnh xây dựng, chuẩn hóa và khai thác dữ liệu số phục vụ quản lý, chỉ huy, điều hành và thực hiện nhiệm vụ. Tập trung xây dựng, chuẩn hóa và từng bước hoàn thiện hệ thống dữ liệu số của Bộ Tư lệnh Vùng theo hướng thống nhất, đồng bộ, có khả năng kết nối, chia sẻ và khai thác hiệu quả. Trên cơ sở các hệ thống thông tin hiện có, tiến hành rà soát, phân loại, số hóa và cập nhật dữ liệu trong từng lĩnh vực công tác; khắc phục tình trạng dữ liệu phân tán, thiếu đồng bộ, hạn chế khả năng kết nối và khai thác thông tin giữa các cơ quan, đơn vị.

Nghiên cứu xây dựng kho dữ liệu tập trung của Bộ Tư lệnh Vùng phù hợp với kiến trúc, tiêu chuẩn kỹ thuật và quy định quản lý dữ liệu của cấp trên. Trong đó, chú trọng chất lượng, tính chính xác, đầy đủ, kịp thời của dữ liệu; xác định rõ trách nhiệm quản lý, cập nhật, khai thác và sử dụng, bảo đảm dữ liệu được quản lý thống nhất, an toàn và phục vụ đúng mục đích.

Trên nền tảng dữ liệu số, từng bước đổi mới phương thức quản lý, điều hành theo hướng khoa học, hiện đại, tăng cường ứng dụng công nghệ trong tổng hợp, phân tích, đánh giá và dự báo tình hình. Đặc biệt, chú trọng khai thác dữ liệu phục vụ công tác tham mưu, chỉ huy, huấn luyện, quản lý lực lượng, bảo đảm hậu cần, kỹ thuật và thực hiện nhiệm vụ trên biển. Qua đó, nâng cao chất lượng thông tin phục vụ chỉ huy các cấp, hỗ trợ lựa chọn phương án xử lý tình huống kịp thời, chính xác, phù hợp với yêu cầu thực tiễn.

Việc xây dựng và khai thác dữ liệu số cần gắn với đổi mới quy trình công tác, nâng cao năng lực sử dụng dữ liệu của cán bộ, chiến sĩ, từng bước chuyển từ phương thức quản lý chủ yếu dựa trên hồ sơ, báo cáo thủ công sang quản lý, điều hành dựa trên dữ liệu số, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả thực hiện nhiệm vụ của Bộ Tư lệnh Vùng.

Tóm lại, chuyển đổi số là yêu cầu khách quan, đồng thời là giải pháp quan trọng nhằm nâng cao chất lượng quản lý, chỉ huy, điều hành và năng lực thực hiện nhiệm vụ của Bộ Tư lệnh Vùng Cảnh sát biển 2. Việc triển khai đồng bộ các giải pháp về lãnh đạo, chỉ đạo, phát triển nguồn nhân lực, hoàn thiện hạ tầng và khai thác dữ liệu số sẽ tạo nền tảng thúc đẩy chuyển đổi số đi vào chiều sâu, thực chất, hiệu quả, góp phần xây dựng Bộ Tư lệnh Vùng vững mạnh toàn diện “mẫu mực, tiêu biểu”, đáp ứng yêu cầu quản lý, bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia và thực thi pháp luật trên biển trong tình hình mới.

 Cùng với việc phát triển hạ tầng số, Bộ Tư lệnh Vùng Cảnh sát biển 2 chú trọng triển khai, khai thác các phần mềm dùng chung như: Hệ thống Quản lý – Chỉ đạo – Điều hành phiên bản 2.0, Hệ thống Quản lý văn bản và Điều hành, Hệ thống thư điện tử quân sự và phần mềm lưu trữ điện tử. Việc ứng dụng các hệ thống này góp phần nâng cao hiệu quả tiếp nhận, xử lý, luân chuyển văn bản, quản lý hồ sơ và theo dõi tiến độ giải quyết công việc, từng bước đổi mới phương thức quản lý, điều hành theo hướng khoa học, hiện đại.

Chuyển đổi số là xu thế tất yếu, đồng thời là yêu cầu quan trọng trong nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam nói chung, Bộ Tư lệnh Vùng Cảnh sát biển 2 nói riêng. Đẩy mạnh chuyển đổi số đồng bộ, thực chất, gắn với đặc thù nhiệm vụ và phát huy vai trò chủ động, sáng tạo của cán bộ, chiến sĩ sẽ góp phần nâng cao năng lực tham mưu, chỉ huy, điều hành và thực thi pháp luật trên biển; xây dựng Bộ Tư lệnh Vùng vững mạnh toàn diện “mẫu mực, tiêu biểu”, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.

Thượng tá, TS. Nguyễn Văn Bách/Phó chính ủy Hải đoàn 21

Tài liệu tham khảo
1. Bộ Thông tin và Truyền thông (2020). Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030.
2. Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2025). Nghị định số 171/2025/NĐ-CP ngày 30/6/2025 quy định về đào tạo, bồi dưỡng công chức.
3. Đảng Cộng sản Việt Nam (2025). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, tập I. Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.
4. Tăng tốc chuyển đổi số trong khu vực công bắt đầu từ đào tạo công chức. https://thanhtra.com.vn/hoan-thien-the-che-D4AD3DB96/tang-toc-chuyen-doi-so-trong-khu-vuc-cong-bat-dau-tu-dao-tao-cong-chuc-02398718c.html
5. Nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức góp phần đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới. https://www.quanlynhanuoc.vn/2025/01/29/nang-cao-chat-luong-dao-tao-boi-duong-can-bo-cong-chuc-vien-chuc-gop-phan-dua-dat-nuoc-buoc-vao-ky-nguyen-moi/