ĐNA - Bài viết nghiên cứu bản chất sự dịch chuyển môi trường giáo dục đại học Việt Nam trong kỷ nguyên chuyển đổi số. Trên nền tảng chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, bài viết xác định bốn trụ cột nội dung cốt lõi: kiến tạo hệ giá trị – chuẩn mực liêm chính; tái cấu trúc tương tác sư phạm; đổi mới phương thức đào tạo – nghiên cứu; hoàn thiện thể chế – hạ tầng. Đồng thời, bài viết đề xuất hệ thống tiêu chí đánh giá toàn diện nhằm đo lường sự chuyển hóa từ ứng dụng kỹ thuật sang thực hành văn hóa số. Nghiên cứu khẳng định triết lý nhân văn hóa công nghệ, lấy con người làm trung tâm trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Từ khóa: văn hóa số; môi trường văn hóa số; giáo dục đại học.

Đặt vấn đề
Chuyển đổi số trong giáo dục đại học hiện nay không đơn thuần là sự nâng cấp hạ tầng kỹ thuật hay số hóa tài nguyên giảng dạy, mà về bản chất là một bước ngoặt dịch chuyển bản thể luận sâu sắc. Quá trình này tái cấu trúc toàn diện không gian học đường truyền thống, định hình nên hình thái môi trường văn hóa số trong giáo dục đại học – một không gian xã hội mới nơi diễn ra các hoạt động sáng tạo, tương tác và thụ hưởng tri thức. Sự xuất hiện của môi trường này mở ra cơ hội bứt phá về chất lượng đào tạo, nhưng cũng đặt ra thách thức gay gắt về tính chân lý của tri thức, sự lệch chuẩn hành vi và nguy cơ xói mòn liêm chính học thuật trong kỷ nguyên số.
C. Mác khẳng định: “Không phải ý thức của con người quyết định tồn tại của họ; trái lại, tồn tại xã hội của họ quyết định ý thức của họ”(1). Từ quan điểm đó, có thể thấy, môi trường số vừa làm thay đổi phương thức hoạt động của giáo dục đại học, vừa đặt ra yêu cầu hình thành những giá trị, chuẩn mực và cách ứng xử phù hợp trong không gian số. Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị xác định: “Phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là đột phá quan trọng hàng đầu”(2), là động lực quan trọng của phát triển nhanh và bền vững đất nước. Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị tiếp tục nhấn mạnh yêu cầu về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo. Trong bối cảnh đó, xây dựng môi trường văn hóa số ở các cơ sở giáo dục đại học không chỉ đòi hỏi ứng dụng công nghệ số, mà cần xác định rõ nội dung và tiêu chí đánh giá, bảo đảm sự phát triển hài hòa giữa năng lực số, đạo đức học thuật và các giá trị văn hóa, nhân văn. Vì vậy, làm rõ nội dung và tiêu chí xây dựng môi trường văn hóa số trong giáo dục đại học Việt Nam hiện nay là vấn đề có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn.
Nội dung
Nội dung xây dựng môi trường văn hóa số trong giáo dục đại học Việt Nam hiện nay
Xây dựng môi trường văn hóa số trong giáo dục đại học là quá trình kiến tạo xã hội có mục đích, chuyển hóa phương thức tồn tại và các hoạt động giáo dục trên nền tảng số. Như C. Mác từng chỉ ra trong Bản thảo kinh tế – triết học năm 1844: “Con người nhân đôi mình không chỉ về mặt trí tuệ như xảy ra trong ý thức nữa, mà còn nhân đôi mình một cách hiện thực, một cách tích cực và con người ngắm nhìn bản thân mình trong thế giới do mình sáng tạo ra”(3). Môi trường văn hóa số chính là “thế giới thứ hai” do con người kiến tạo, phản ánh trình độ phát triển và giải phóng các năng lực bản chất người trong kỷ nguyên công nghệ. Theo đó, nội dung xây dựng môi trường văn hóa số trong các cơ sở giáo dục đại học Việt Nam hiện nay bao quát toàn diện bốn trụ cột cơ bản: kiến tạo hệ giá trị và chuẩn mực văn hóa số; tái cấu trúc hệ quan hệ và phương thức tương tác văn hóa số; đổi mới các hình thái hoạt động giáo dục – khoa học số; và hoàn thiện hệ thống thiết chế, hạ tầng công nghệ số.
Trước hết, cốt lõi của môi trường văn hóa số là việc xác lập, chuyển hóa và thực hành hệ giá trị cùng hệ thống chuẩn mực đạo đức, pháp luật số. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nhấn mạnh: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học nghệ thuật và các công cụ cho sinh hoạt hằng ngày, toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa”(4). Khi công cụ sản xuất và phương thức giao tiếp chuyển sang hình thái số, hệ giá trị văn hóa học đường truyền thống như tinh thần tôn sư trọng đạo, tính trung thực, sự mực thước và tinh thần cống hiến cần được cụ thể hóa thành các chuẩn mực ứng xử số. Đó là việc thiết lập bộ quy tắc ứng xử văn minh trên không gian mạng, tinh thần trách nhiệm khi phát ngôn và trích dẫn dữ liệu, sự tôn trọng bản quyền tác giả và đặc biệt là việc giữ gìn liêm chính học thuật trước sự bùng nổ của trí tuệ nhân tạo. Tinh thần Quyết định số 749/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ đã chỉ rõ yêu cầu hình thành văn hóa số gắn liền với việc bảo vệ các giá trị đạo đức căn bản và chủ quyền số quốc gia. Đồng thời, Thông tư số 18/2026/TT-BGDĐT của Bộ Giáo dục và Đào tạo khi ban hành Khung năng lực số đã coi đạo đức trí tuệ nhân tạo, tư duy lấy con người làm trung tâm và an toàn thông tin là miền năng lực nền tảng đối với đội ngũ nhà giáo. Chuẩn mực văn hóa số đóng vai trò là nền tảng giá trị, ngăn chặn các hành vi lệch chuẩn, gian lận tri thức hay nguy cơ ô nhiễm thông tin, bảo đảm cho hoạt động giáo dục luôn giữ vững định hướng nhân văn và tính chân lý khoa học.
Thứ hai, nội dung xây dựng môi trường văn hóa số đòi hỏi phải tái cấu trúc và chuẩn hóa các quan hệ văn hóa, phương thức giao tiếp giữa giảng viên, sinh viên và cán bộ quản lý trên không gian mạng. Sự xuất hiện của không gian số làm mờ đi ranh giới địa lý và tính thứ bậc cứng nhắc trong mô hình lớp học truyền thống, mở ra các hình thức tương tác đa chiều, học tập cộng tác và diễn đàn thảo luận trực tuyến. Tuy nhiên, để môi trường này thực sự văn minh, kỷ cương và sư phạm, việc định hình chuẩn mực giao tiếp số phải bảo đảm sự kết hợp hài hòa giữa tính mở của công nghệ với kỷ luật học đường và nguyên tắc ứng xử sư phạm. Phương thức tương tác số chính là con đường đưa tư tưởng, lý luận và các giá trị văn hóa thâm nhập sâu rộng vào đời sống sinh viên. Giảng viên không chỉ dừng lại ở vai trò truyền thụ tri thức một chiều mà trở thành kiến trúc sư học tập số, người dẫn dắt, đối thoại và định hướng văn hóa cho người học. Tương tác số lành mạnh phải dựa trên sự tôn trọng quyền riêng tư, tinh thần lắng nghe, sự công bằng trong đánh giá và thái độ ứng xử chuẩn mực của nhà giáo, từ đó lan tỏa bầu không khí học thuật dân chủ, giàu tính nhân văn.
Thứ ba, xây dựng môi trường văn hóa số thể hiện ở việc đổi mới toàn diện các hình thái hoạt động giáo dục – đào tạo, nghiên cứu khoa học và phát triển hệ thống học liệu số chuẩn mực. Bám sát tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, cùng Nghị quyết số 80-NQ/TW về phát triển văn hóa Việt Nam, việc chuyển đổi phương thức dạy và học sang mô hình kết hợp, lớp học đảo ngược và thực hành trên nền tảng số là yêu cầu tất yếu. Nội dung số không đơn thuần là việc số hóa cơ học các tài liệu giấy hay trình chiếu slide bài giảng, mà đòi hỏi sự sáng tạo các sản phẩm học liệu đa phương tiện, kho tài nguyên giáo dục mở, hệ thống mô phỏng và ngân hàng dữ liệu kiểm tra đánh giá có tính tương tác cao. Văn kiện Đại hội XIV của Đảng nhấn mạnh yêu cầu: “Vấn đề đổi mới toàn diện, căn bản giáo dục, đào tạo được xác định rõ ràng hơn, toàn diện hơn, đó là đổi mới đồng bộ cả mục tiêu, nội dung, chương trình, phương thức, phương pháp theo hướng hiện đại, hội nhập quốc tế, phát triển con người toàn diện, đáp ứng những yêu cầu mới của phát triển kinh tế – xã hội, khoa học và công nghệ, thích ứng với cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư”(5). Mỗi bài giảng số, mỗi công trình nghiên cứu trực tuyến của giảng viên phải trở thành một sản phẩm văn hóa chuẩn mực, có sức lan tỏa, góp phần bồi dưỡng tư duy phản biện, kỹ năng số và tinh thần tự học suốt đời cho thế hệ công dân số trẻ.
Thứ tư, xây dựng hệ thống thiết chế, hạ tầng công nghệ số và mô hình quản trị đại học số hiện đại, an toàn là điều kiện cơ sở vật chất – kỹ thuật không thể thiếu của môi trường văn hóa số. Văn hóa không tồn tại trừu tượng mà luôn bộc lộ qua các thiết chế và hạ tầng tương ứng. Xây dựng hạ tầng số bao gồm việc phát triển mạng băng rộng, trung tâm dữ liệu, hệ thống quản lý học tập, thư viện số và các nền tảng dùng chung đồng bộ. Đồng thời, công tác quản trị đại học phải chuyển dịch sang mô hình quản trị dựa trên dữ liệu và trí tuệ nhân tạo, bảo đảm tính minh bạch, trách nhiệm giải trình và tối ưu hóa quy trình phục vụ người học. Đặc biệt, hạ tầng công nghệ phải đi liền với công tác bảo đảm an toàn, an ninh mạng, bảo vệ dữ liệu cá nhân và chủ quyền số quốc gia. Sự kết hợp chặt chẽ giữa hạ tầng kỹ thuật hiện đại với hệ thống quy chế vận hành nghiêm cẩn sẽ tạo ra không gian sinh tồn số an toàn, tin cậy, giúp cán bộ, giảng viên và sinh viên yên tâm sáng tạo, cống hiến, thực hiện thắng lợi mục tiêu chấn hưng văn hóa và phát triển giáo dục đại học trong kỷ nguyên mới của dân tộc.
Tóm lại, xây dựng môi trường văn hóa số trong giáo dục đại học Việt Nam là quá trình chuyển hóa bản thể luận sâu sắc, kết hợp chặt chẽ giữa công nghệ với các giá trị nhân văn và liêm chính học thuật. Bốn trụ cột nội dung nêu trên có quan hệ biện chứng khăng khít, trong đó đội ngũ giảng viên giữ vai trò chủ thể nòng cốt. Đây là tiền đề quyết định để kiến tạo không gian học thuật số lành mạnh, thực hiện thắng lợi đột phá chiến lược về phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong kỷ nguyên mới.
Tiêu chí đánh giá xây dựng môi trường văn hóa số trong giáo dục đại học Việt Nam hiện nay
Đánh giá môi trường văn hóa số trong giáo dục đại học không thể đo đếm thuần túy bằng các chỉ số kỹ thuật cơ học, mà phải được nhìn nhận một cách khách quan, toàn diện, lịch sử – cụ thể, phát triển. Nhận thức là quá trình con người tiến gần đến đối tượng, tạo ra các chuỗi mô hình và khái niệm để phản ánh ngày càng sâu sắc bản chất vận động biện chứng của thực tại. Do đó, hệ thống tiêu chí đánh giá môi trường văn hóa số là bộ công cụ đo lường mức độ chuyển hóa bản thể luận – tức mức độ chuyển từ việc ứng dụng công nghệ sang hình thành thói quen, chuẩn mực, giá trị và phương thức sinh tồn số lành mạnh, nhân văn của cộng đồng học đường.
Bám sát các chủ trương chiến lược của Đảng tại Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ và chuyển đổi số, Nghị quyết số 80-NQ/TW về phát triển văn hóa, Quyết định số 749/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, Khung năng lực số ban hành kèm Thông tư số 18/2026/TT-BGDĐT của Bộ Giáo dục và Đào tạo, cùng kết quả tổng kết thực tiễn giáo dục đại học, hệ thống tiêu chí đánh giá xây dựng môi trường văn hóa số trong các cơ sở giáo dục đại học Việt Nam hiện nay bao gồm bốn nhóm trụ cột cơ bản:
Một là, tiêu chí về sự chuyển biến nhận thức, bản lĩnh chính trị và chuẩn mực đạo đức, liêm chính số. Tiêu chí này đo lường mức độ thấu suốt của cán bộ, giảng viên và sinh viên về bản chất văn hóa của chuyển đổi số, coi đây là nhiệm vụ chính trị và môi trường rèn luyện nhân cách chứ không thuần túy là công cụ kỹ thuật. Biểu hiện cốt lõi của tiêu chí là việc xác lập “bộ lọc giá trị” và “lá chắn tư tưởng” vững vàng trước ô nhiễm thông tin, quan điểm sai trái trên không gian mạng; sự tuân thủ nghiêm cẩn kỷ luật phát ngôn, quy định bảo mật, bảo vệ chủ quyền số và tính chính xác của dữ liệu. Đặc biệt, trong kỷ nguyên AI tạo sinh, tiêu chí này đòi hỏi sự thực hành tự giác các nguyên tắc liêm chính học thuật: minh bạch nguồn gốc dữ liệu, tôn trọng bản quyền tác giả, bảo vệ quyền riêng tư và vận dụng AI theo nguyên tắc “con người làm trung tâm”.
Hai là, tiêu chí về năng lực số, năng lực sư phạm số và mức độ sáng tạo nội dung của các chủ thể giáo dục. Tiêu chí này đánh giá trình độ làm chủ và khai thác công nghệ của giảng viên và sinh viên dựa trên Khung năng lực số chuẩn hóa. Đối với giảng viên, thước đo nằm ở khả năng chuyển từ dạy học truyền thống sang thiết kế trải nghiệm học tập số, mô hình kết hợp (blended learning), lớp học đảo ngược, sáng tạo kho học liệu số có tính tương tác cao và năng lực kiểm tra, đánh giá dựa trên phân tích dữ liệu. Đối với người học, tiêu chí thể hiện ở năng lực tư duy phản biện, kỹ năng tìm kiếm và kiểm chứng thông tin, văn hóa tự học suốt đời và khả năng giải quyết vấn đề trên nền tảng số.
Ba là, tiêu chí về chất lượng các quan hệ văn hóa, môi trường giao tiếp và sinh hoạt học thuật trên không gian mạng. Môi trường văn hóa số lành mạnh phải tạo ra không gian tương tác dân chủ, bình đẳng, kỷ cương và giàu tính nhân văn. Tiêu chí này đo lường mức độ văn minh trong giao tiếp giữa giảng viên với sinh viên, giữa các đồng nghiệp trên diễn đàn trực tuyến, hệ thống LMS và mạng xã hội; khả năng trao quyền cho người học, thúc đẩy học tập cộng tác và tinh thần sẻ chia tri thức. Môi trường đạt chuẩn là nơi công nghệ giải phóng con người khỏi rào cản thứ bậc cứng nhắc nhưng vẫn giữ vững tôn ti trật tự sư phạm và tính mực thước học đường.
Bốn là, tiêu chí về sự hoàn thiện của thể chế, hạ tầng công nghệ, quản trị dữ liệu và bảo đảm an toàn số. Văn hóa số cần hành lang pháp lý và nền tảng kỹ thuật đồng bộ để vận hành. Tiêu chí này đánh giá việc cơ sở giáo dục đại học cụ thể hóa các văn bản quy phạm pháp luật thành Bộ Quy tắc ứng xử số, Quy định về liêm chính AI và quy trình thẩm định học liệu số; mức độ phát triển hạ tầng mạng băng rộng, thư viện số, không gian sáng tạo mở và hệ thống quản trị đại học dựa trên dữ liệu; cùng khả năng kiểm soát rủi ro, bảo vệ an toàn dữ liệu cá nhân và an ninh thông tin.
Như vậy, bốn nhóm tiêu chí nêu trên tạo thành một hệ thống chỉ báo biện chứng, thống nhất, phản ánh toàn diện chất lượng môi trường văn hóa số trong giáo dục đại học. Việc vận dụng đồng bộ hệ tiêu chí này giúp các cơ sở giáo dục đại học không chỉ đo lường chính xác thực trạng, nhận diện điểm nghẽn, mà còn định hướng chiến lược hoàn thiện thể chế và nâng cao năng lực con người. Đây chính là thước đo căn bản khẳng định sự thành công của chuyển đổi số giáo dục, góp phần thực hiện thắng lợi đột phá phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Kết luận
Hệ thống nội dung và tiêu chí xây dựng môi trường văn hóa số mang giá trị khoa học sâu sắc cả về lý luận và thưc tiễn. Trong đó, nền tảng tư tưởng của Đảng là kim chỉ nam, sợi chỉ đỏ xuyên suốt giúp giải mã bản chất sự dịch chuyển bản thể luận không gian học đường tron kỷ nguyên số. Đồng thời, hệ thống cụ thể hóa các Nghị quyết 57-NQ/TW, 80-NQ/TW, 71-NQ/TW của Bộ Chính trị và Thông tư 18/2026/TT-BGDĐT thành bộ công cụ quản trị, đo lường chuẩn mực. Trọng tâm của hệ thống là triết lý nhân văn hóa công nghệ, lấy con người làm trung tâm. Thấm nhuần tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa “soi đường cho quốc dân đi”, việc giữ vững chuẩn mực và liêm chính số đóng vai trò giá trị cốt lõi, bảo đảm công nghệ phục vụ sự phát triển tự do, toàn diện của con người. Trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, môi trường văn hóa số nhân văn chính là động lực nội sinh quyết định sự bứt phá của giáo dục đại học Việt Nam.
Vũ Thị Minh Tâm – Học viện Kỹ thuật quân sự
Chú thích tài liệu trích dẫn:
- Mác và Ph.Ăngghen (1859), “Góp phần phê phán khoa kinh tế chính trị-Lời tựa”, Toàn tập, tập 13, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 1993, tr. 15.
- Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2024), Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo, Hà Nội, ngày 22/12/2024, tr.02.
- Mác và Ph.Ăngghen (1844), “Bản thảo kinh tế – triết học”, Toàn tập, tập 42, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 1995, tr.137.
- Hồ Chí Minh (1943), “Nhật ký trong tù”, Toàn tập, tập 3, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr.458.
- Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, tập 2, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr.61.
